Nghề nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam phát triển tự phát quá nhanh nên các nghiên cứu về dịch bệnh và các biện pháp quản lý chưa thể đáp ứng kịp. Trong những năm qua, hầu hết người nuôi trồng thủy sản đối phó với dịch bệnh theo kinh nghiệm qua quan sát dấu hiệu bệnh lý hoặc dựa theo tỉ lệ chết hàng ngày. Thuốc và hóa chất thường được người nuôi sử dụng để phòng và trị bệnh mà không biết rõ tác nhân gây bệnh, không đúng theo sự hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc không có sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật. Kết hợp nhiều loại thuốc kháng sinh để trị bệnh cũng khá phổ biến trong nuôi trồng thủy sản. Người nuôi vẫn chưa có nhận thức tốt về tác dụng, tác hại của thuốc đối với vật nuôi và môi trường. Việc sử dụng thuốc và hóa chất bừa bãi và lặp đi lặp lại nhiều lần đã dẫn đến tình trạng kháng thuốc kháng sinh của nhiều tác nhân gây bệnh, đặc biệt là các bệnh do vi trùng, vi khuẩn gây ra.

Hiện tượng kháng thuốc kháng sinh là khả năng mà vi khuẩn có thể chịu được tác động của loại thuốc kháng sinh nào đó. Các gen kháng thuốc thường có sẵn trong các loài vi sinh vật tạo ra kháng sinh nhằm bảo vệ chúng khỏi tác động của thuốc kháng sinh này. Vi khuẩn đã kháng thuốc kháng sinh có thể truyền gen kháng thuốc sang vi khuẩn khác và hiện tượng kháng thuốc có nguy cơ xảy ra ở hầu hết các loại kháng sinh đã dùng trong nuôi trồng thủy sản. Như vậy, tác hại to lớn và lâu dài là không có loại thuốc nào có thể tiêu diệt được các chủng vi sinh đã chuyển gen do kháng thuốc và có thể bùng phát thành dịch bệnh.

Bên cạnh sự kháng thuốc thì vấn đề dư lượng thuốc và hóa chất trong sản phẩm thủy sản còn gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng và điều này gây nhiều trở ngại cho việc xuất khẩu thủy sản.

Mặt khác, lượng thức ăn dư thừa, tảo chết, phân cá lại là nguồn dinh dưỡng dồi dào cho các tác nhân gây bệnh sử dụng để phát triển gia tăng gây nên dịch bệnh đồng thời làm môi trường bị xuống cấp và ô nhiễm một cách trầm trọng.

Để tránh sự kích thích dịch bệnh thành đại dịch khó trị, và sự ô nhiễm môi trường nặng nề. Khoa học đã nghiên cứu và đưa ra giải pháp sinh học tối ưu mà lấy làm Thủy Kim Sinh tự hào vì đã tiếp nhận được thành tựu to lớn ấy. Đó là ứng dụng chế phẩm vi sinh vật TKS - E.M trong nuôi trồng thủy sản bởi những nhóm có ích :

1. Nhóm vi khuẩn hiếu khí ( nitrate, nitrite hóa) giúp xử lý đạm thừa, giải phóng NH3 và những chất độc hại trong môi trường nước.

2. Nhóm vi khuẩn lưu huỳnh, phân giải các chất S nhằm ngăn ngừa sinh ra khí H2S, idol... gây hôi thôi, ô nhiễm.

3. Nhóm yếm khí tùy nghi, Giúp phân giải các chất hữu cơ lơ lửng trong nước tạo thành nguồn năng lương cho các nhóm vi khuẩn có ích khác phát triển.

4. Nhóm yếm khí bắt buộc, xử lý toàn bộ lượng hữu cơ trong điều kiện không có oxy như tầng đáy ao, bùn ao giúp giải phóng khí độc và phân hủy hữu cơ, khống chế mùi hôi thối gây ô nhiễm tầng đáy.

Với mục đích cạnh tranh dinh dưỡng, cắt đứt nguồn sống của vi sinh vật có hại để khống chế dịch bệnh đồng thời giải quyết triệt để vấn để ô nhiễm nguồn nước.

CHỈ CÓ THỂ LÀ MEN VI SINH TKS

Nhà Máy Sinh Học TKS - Chi Nhánh Công ty TNHH Thủy Kim Sinh tại Đắk Lắk

Lô A08, khu công nghiệp Hòa Phú,
Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk

Nhà máy sản xuất chế phẩm sinh học dùng trong nông nghiệp, men vi sinh ứng dụng trong chăn nuôi và xử lý môi trường.

Go to top